Chủ Nhật,
20/10/2019

TRƯỜNG THPT MỸ XUYÊN

ALBUM

HS GIỎI TỈNH, QUỐC GIA

Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2018 - 2019


1. Nguyễn Xuân Hiên
Giải Ba môn Toán

2. Lâm Hiếu Kiên
Giải KK môn Toán

3. Lâm Thanh Ngân
Giải KK môn Toán

4. Lê Tuyết Trân
Giải KK môn Toán

5. Phan Quốc Khang
Giải Ba môn Vật lý

6. Huỳnh Đông Quí
Giải KK môn Vật lý

7. Trần Hoàng Bình
Giải Ba môn Hóa học

8. Lê Trọng Nguyên
Giải Ba môn Hóa học

9. Huỳnh Trần Hảo
Giải KK môn Tin hoc

10. Đặng Bảo Ngọc
Giải KK môn Ngữ Văn

11. Huỳnh Tuyết Nhung
Giải Ba môn Ngữ Văn

12. Nguyễn Thị Tú Trinh
Giải KK môn Ngữ Văn

13. Lý Thị Mỷ Nhân
Giải Ba môn Địa lý

14. Trần San San
Giải KK môn Tiếng anh

15. Dương Út Hậu
Giải Nhì môn GDCD


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2017 - 2018


1. Hồng Nhật Anh
Giải Nhì môn Toán

2. Ngô Đức Long
Giải Ba môn Toán

3. Dương Bội Trân
Giải KK môn Toán

4. Huỳnh Đông Quí
Giải KK môn Vật lí

5. Trần Phước Tài
Giải Ba môn Vật lí

6. Nguyễn Ngọc Trang
Giải KK môn Vật lí

7. Lưu Hồng Ngọc
Giải Ba môn Sinh học

8. Lê Thị Tú Anh
Giải Nhì môn Ngữ văn

9. Tè Thanh Uyên
Giải Nhì môn Ngữ văn

10. Nguyễn Thị Phương Ninh
Giải Ba môn Lịch sử

11. Lâm Tuấn Kiệt
Giải Nhì môn GDCD

12. Lâm Thị Vàng
Giải Ba môn GDCD

13. Huỳnh Thị Ngọc Anh
Giải Ba môn Tiếng Anh

14. Trần Huỳnh Thảo Ngân
Giải Nhì môn Tiếng Anh


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2016 - 2017


1. Tăng Thanh Đạt
Giải KK môn Địa lý

2. Võ Lê Hồng Anh
Giải Ba môn Tiếng anh

3. Võ Kiều Hân
Giải KK môn Tiếng anh

4. Diệp Yến Linh
Giải Ba môn Toán

5. Nguyễn Thanh Tùng
Giải Ba môn Toán

6. Cao Thị Anh Thư
Giải Ba môn Toán

7. Huỳnh Quốc Tuấn
Giải KK môn Toán

8. Trịnh Phước Hào
Giải KK môn Vật lý

9. Hứa Yến Vy
Giải KK môn Hóa học

10. Diệp Yến Linh
Giải nhì môn Casio Toán

11. Cao Thị Anh Thư
Giải ba môn Casio Toán

12. Nguyễn Thanh Tùng
Giải nhì môn Casio Toán

13. Trần Hoàng Dung
Giải ba môn Casio Vật Lý

14. Trần Xuân Diễm
Giải ba môn Casio Vật Lý

15. Trương Tiểu Ngân
Giải ba môn Casio Vật Lý

16. Lưu Tấn Đạt
Giải ba môn Casio Hóa học

17. Trần Trung Ngọc
Giải ba môn Casio Hóa học

18. Hứa Yến Vy
Giải ba môn Casio Hóa học

19. Đào Tuyết Ngà
Giải ba môn Casio Sinh học

20. Lý Gia Ngân
Giải ba môn Casio Sinh học


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2015 - 2016


1. Lê Khải Trí
Giải KK môn Toán

2. Ngô Thúy Nhi
Giải KK môn Hoá học

3. Nguyễn Định Khang
Giải KK môn Ngữ Văn

4. Lý Hoàng Hiếu
Giải KK môn Lịch sử

5. Trương Hoàng Việt
Giải KK môn Lịch sử

6. Võ Lê Hồng Anh
Giải KK môn Tiếng Anh

7. Nguyễn Hồng Hân
Giải KK môn Tiếng Anh

8. Trần Ngọc Tú
Giải KK môn Tiếng Anh

9. Lê Khải Trí
Giải KK môn Casio Toán

10. Nguyễn Thanh Tùng
Giải ba môn Casio Toán

11. Đặng Thanh Thủy Vy
Giải ba môn Casio Toán

12. Trần Tuấn An
Giải ba môn Casio Vật Lý

13. Trần Hoàng Dung
Giải ba môn Casio Vật Lý

14. Trần Ngọc Tú
Giải ba môn Casio Vật Lý

15. Đoàn Mỹ Nhi
Giải KK môn Casio Hóa học

16. Ngô Thúy Nhi
Giải ba môn Casio Hóa học


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2014 - 2015


1. Nguyễn Thị Kiều Diễm
Giải KK môn Ngữ Văn

2. Phạm Tất Huy
Giải KK môn Ngữ Văn
Giải KK Casio Toán

3. Nguyễn Thị Hồng Cúc
Giải ba môn Lịch Sử

4. Võ Thuý Oanh
Giải KK môn Lịch Sử

5. Nguyễn Thị Mỹ Nhân
Giải KK môn Địa Lý

6. Trần Thái Phong
Giải KK môn Tiếng Anh

7. Trần Vũ Huỳnh
Giải ba Casio Toán

8. Huỳnh Phước Thành
Giải KK Casio Toán

9. Kha Ất Khâm
Giải ba Casio Vật Lý

10. Lý Thành Nghiêm
Giải KK Casio Vật Lý

11. Trương Hoài Phong
Giải KK Casio Vật Lý

12. Lê Hoàng Phúc
Giải KK Casio Hoá


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2013 - 2014


1. Nguyễn Vũ Huy
Giải Ba môn Toán

2. Tô Phước Sang
Giải Ba môn Vật Lý

3. Huỳnh Phương Uyên
Giải Ba môn Vật Lý

4. Nguyễn Thị Thanh Hiền
Giải Ba môn Ngữ Văn

5. Võ Thị Tuyết Vân
Giải Ba môn Ngữ Văn

6. Tống Quốc Bảo
Giải Ba môn Lịch Sử

7. Nguyễn Thị Lan Thanh
Giải Ba môn Tiếng Anh

8. Chung Thị Ngọc Liên
Giải KK môn Toán

9. Triệu Quang Thái
Giải KK môn Toán

10. Nhâm Tuấn Châu
Giải KK môn Vật Lý

11. Kha Ất Khâm
Giải KK môn Vật Lý

12. Phan Trọng Lộc
Giải KK môn Vật Lý

13. Mã Trúc Linh
Giải KK môn Hóa

14. Ngô Hoàng Quyên
Giải KK môn Hóa

15. Lê Phan Thu Trân
Giải KK môn Hóa

16. Lý Thị Kim Yến
Giải KK môn Ngữ Văn

17. Nguyễn Phúc
Giải KK môn Tiếng Anh

18. Trần Lệ Xuân
Giải KK môn Tiếng Anh

19. Nguyễn Vũ Huy
Giải ba môn Casio Toán

20. Chung Thị Ngọc Liên
Giải ba môn Casio Toán

21. Triệu Quang Thái
Giải ba môn Casio Toán

22. Huỳnh Văn Tốt
Giải ba môn Casio Toán

23. Huỳnh Phương Uyên
Giải nhất môn Casio Lý

24. Nhâm Tuấn Châu
Giải ba môn Casio Lý

25. Phan Trọng Lộc
Giải ba môn Casio Lý

26. Tô Phước Sang
Giải ba môn Casio Lý


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2012 - 2013


1. Lưu Thị Mỹ Chi
Giải nhì môn Ngữ Văn

2. Nguyễn Ngọc Thanh Thanh
Giải nhì môn Tiếng Anh

3. Trần Thị Trúc Linh
Giải ba môn Lịch Sử

4. Hồ Thị Khả My
Giải KK môn Lịch Sử

5. Nguyễn Xuân Vinh
Giải KK môn Lịch Sử

6. Lương Hiệp Định
Giải KK môn Tiếng Anh

7. Nguyễn Thành Đạt
Giải KK môn Ngữ Văn

8. Đinh Bình Thanh
Giải KK môn Toán

9. Lâm Quốc Lộc
Giải KK môn Vật Lý

10. Lê Nhựt Thanh
Giải KK môn Vật Lý

11. Phan Thị Bích Trâm
Giải KK môn Vật Lý

12. Hồ Thị Thu Trân
Giải KK môn Hóa

13. Nguyễn Thành Đạt
Giải ba môn Máy tính Casio

14. Hồ Thị Thu Trân
Giải ba môn Máy tính Casio

15. Nguyễn Ngọc Thanh Thanh
Giải ba môn Máy tính Casio

16. Lê Nhựt Thanh
Giải ba môn Máy tính Casio

17. Lý Minh Tiến
Giải ba môn Máy tính Casio

18. Trần Phước Huy
Giải ba môn Máy tính Casio

19. Đinh Bình Thanh
Giải KK môn Máy tính Casio

20. Lâm Quốc Lộc
Giải KK môn Máy tính Casio


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2011 - 2012


1. Trần Duy Linh
Giải nhì môn Ngữ Văn

2. Hà Thùy Linh
Giải nhì môn Ngữ Văn

3. Trương Đức Dũng
Giải nhì môn Tiếng Anh

4. Hà Mỹ Thảo Nhi
Giải nhì môn Tiếng Anh

5. Nguyễn Thanh Sang
Giải ba môn Lịch Sử

6. Huỳnh Văn Tiến
Giải ba môn Lịch Sử

7. Mai Văn Dàng
Giải ba môn Lịch Sử

8. Nguyễn Ngọc Thanh Thanh
Giải ba môn Tiếng Anh

9. Ong Lệ Quân
Giải ba môn Tiếng Anh

10. Kiên Thị Rum
Giải ba môn Khmer ngữ

11. Thạch Thị Hoành Thi
Giải ba môn Khmer ngữ

12. Triệu Quang Khải
Giải ba môn Toán

13. Tạ Tiểu Châu
Giải ba môn Vật Lý

14. Võ Chí Tâm
Giải KK môn Ngữ Văn

15. Phan Thiên Trí
Giải KK môn Ngữ Văn

16. Nguyễn Phương Hồng Nguyện
Giải ba môn Sinh

17. Nguyễn Ngọc Thanh Thanh
Giải KK môn Máy tính Casio

18. Tạ Tiểu Châu
Giải KK môn Máy tính Casio

19. Lương Thị Cẩm Vui
Giải KK môn Máy tính Casio

20. Lê Phước Vinh
Giải KK môn Máy tính Casio


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2010 - 2011


1. Trương Thị Mỹ Hạnh
Giải nhì môn Ngữ Văn

2. Trịnh Vương Tuấn Vũ
Giải nhì môn Ngữ Văn

3. Lê Thị Mỹ An
Giải ba môn Ngữ Văn

4. Huỳnh Thanh Nhã
Giải ba môn Lịch Sử

5. Ngô Thanh Thảo
Giải ba môn Lịch Sử

6. Thạch Minh Sang
Giải ba môn Vật Lý

7. Tất Gia Hân
Giải KK môn Máy tính Casio

8. Trần Minh Luân
Giải KK môn Máy tính Casio

9. Thạch Minh Sang
Giải KK môn Máy tính Casio

10. Trịnh Anh Thư
Giải KK môn Máy tính Casio


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2009 - 2010


1. Hồ Minh Thảo
Giải nhì môn Máy tính Casio

2. Trịnh Đức Thuận
Giải KK môn Máy tính Casio

3. Nguyễn Khánh Duy
Giải KK môn Máy tính Casio

4. Phạm Minh Sáng
Giải ba môn Máy tính Casio

5. Trần Hữu Thanh
Giải KK môn Máy tính Casio

6. Huỳnh Thị Bạch Tuyết
Giải KK môn Máy tính Casio

7. Trịnh Tuyết Mai
Giải KK môn Máy tính Casio

8. Nguyễn Thị Mỵ
Giải KK môn Ngữ Văn

9. Phan Kim Phụng
Giải KK môn Ngữ Văn


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2008 - 2009


1. Tô Thị Thảo Vy
Giải ba môn Ngữ Văn

2. Tăng Phú Tỷ
Giải ba môn Khmer ngữ

3. Nguyễn Huỳnh Như Liễu
Giải KK môn Sinh học

4. Lê Thiện Tín
Giải KK môn Lịch Sử


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2007 - 2008


1. Trương Quốc Cường
Giải nhì môn Vật Lý
Giải ba môn Máy tính Casio

2. Hàn Ngọc Hiếu
Giải KK môn Vật Lý

3. Cao Đel
Giải KK môn Khmer ngữ

4. Phó Kim Hưng
Giải ba môn Máy tính Casio

5. Phùng Tiểu My
Giải ba môn Máy tính Casio

6. Dương Thị Trúc Ly
Giải KK môn Máy tính Casio


Học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học 2006 - 2007


1. Thạch Thị Ngọc Tường
Giải nhất môn Khmer ngữ

2. Trà Thị Thu Anh
Giải nhì môn Khmer ngữ

3. Thạch Văn Tấn
Giải ba môn Lịch Sử

4. Trần Phương Thanh
Giải KK môn Tiếng Anh

5. Trương Thị Thanh Vân
Giải KK môn Tiếng Anh

6. Phạm Yến Xuân
Giải KK môn Tiếng Anh


Xem chi tiết 

HS GIỎI HỌC KÌ, CẢ NĂM

Học sinh giỏi
Năm học 2018 - 2019


1. Hồng Nhật Anh
Lớp 12A1

2. Huỳnh Thị Ngọc Anh
Lớp 12A1

3. Lê Thị Tú Anh
Lớp 12A1

4. Trương Ngọc Bích
Lớp 12A1

5. La Bá Cường
Lớp 12A1

6. Võ Hồng Thúy Diễm
Lớp 12A1

7. Ông Tú Khanh
Lớp 12A1

8. Hồ Anh Khoa
Lớp 12A1

9. Nguyễn Thị Trúc Linh
Lớp 12A1

10. Ngô Đức Long
Lớp 12A1

11. Nguyễn Triệu Quế Mi
Lớp 12A1

12. Trương Quốc Minh
Lớp 12A1

13. Châu Hải My
Lớp 12A1

14. Vương Thị Diễm My
Lớp 12A1

15. Trương Kim Ngân
Lớp 12A1

16. Phan Thị Nhã
Lớp 12A1

17. Trịnh Thị Hương Nhi
Lớp 12A1

18. Huỳnh Thanh Phong
Lớp 12A1

19. Quách Tiểu Phụng
Lớp 12A1

20. Nguyễn Thị Ngọc Quyên
Lớp 12A1

21. Cao Nguyễn Thúy Quỳnh
Lớp 12A1

22. Trần Nguyên Tân
Lớp 12A1

23. Trần Thu Thảo
Lớp 12A1

24. Đặng Thị Kim Thư
Lớp 12A1

25. Dương Bội Trân
Lớp 12A1

26. Nguyễn Ái Trinh
Lớp 12A1

27. Thái Minh Tuấn
Lớp 12A1

28. Dương Thanh Tuyền
Lớp 12A1

29. Lê Anh Vy
Lớp 12A1

30. Phan Vương Ái Vy
Lớp 12A1

31. Thái Thanh Vy
Lớp 12A1

32. Lê Thái Duy
Lớp 12A2

33. Trần Thị Khánh Duy
Lớp 12A2

34. Phạm Thị Hương
Lớp 12A2

35. Nguyễn Thị Trúc Ly
Lớp 12A2

36. Trịnh Phan Ngọc Mai
Lớp 12A2

37. Nguyễn Thị Diểm My
Lớp 12A2

38. Nguyễn Thị Phương Ninh
Lớp 12A2

39. Nguyễn Mạnh Phi
Lớp 12A2

40. Thái Lê Thảo Phương
Lớp 12A2

41. Lê Hoàng Thiên
Lớp 12A2

42. Lê Thị Bảo Trân
Lớp 12A2

43. Dương Quốc An
Lớp 12A3

44. Quách Thị Vân Anh
Lớp 12A3

45. Nguyễn Kha Quốc Bảo
Lớp 12A3

46. Nguyễn Thị Ngọc Châu
Lớp 12A3

47. Lê Hoàng Dũng
Lớp 12A3

48. Lâm Huỳnh Duyên
Lớp 12A3

49. Huỳnh Tôn Định
Lớp 12A3

50. Trần Minh Hiệp
Lớp 12A3

51. Trần Quốc Hưng
Lớp 12A3

52. Quách Thị Trúc Linh
Lớp 12A3

53. Đàm Trúc Ly
Lớp 12A3

54. Dư Thanh Minh
Lớp 12A3

55. Bùi Kim Ngân
Lớp 12A3

56. Trần Huỳnh Thảo Ngân
Lớp 12A3

57. Lưu Hồng Ngọc
Lớp 12A3

58. Tiêu Ngọc Tố Quyên
Lớp 12A3

59. Trần Tiến Sỉ
Lớp 12A3

60. Trần Phước Tài
Lớp 12A3

61. Kim Ngọc Thái
Lớp 12A3

62. Huỳnh Thị Ngọc Thi
Lớp 12A3

63. Nguyễn Ngọc Trang
Lớp 12A3

64. Nguyễn Trương Minh Trí
Lớp 12A3

65. Trần Minh Tuấn
Lớp 12A3

66. Nguyễn Thị Thảo Uyên
Lớp 12A3

67. Huỳnh Phúc Vinh
Lớp 12A3

68. Lâm Thị Ngọc Anh
Lớp 12A4

69. Ngô Thị Hồng Cúc
Lớp 12A4

70. Thái Nguyễn Như Huỳnh
Lớp 12A4

71. Tiền Thị Cẩm Nhung
Lớp 12A4

72. Đồng Thị Kim Thanh
Lớp 12A4

73. Phạm Văn Tín
Lớp 12A4

74. Trần Thị Dung
Lớp 12A5

75. Lê Hồ Diễm Hằng
Lớp 12A5

76. Lâm Tuấn Kiệt
Lớp 12A5

77. Phạm Hồ Kim Lan
Lớp 12A5

78. Lê Ngọc Nhi
Lớp 12A5

79. Phan Tuấn Anh
Lớp 11A1

80. Trần Hoàng Bình
Lớp 11A1

81. Hồ Thị Ngọc Đính
Lớp 11A1

82. Nguyễn Xuân Hiên
Lớp 11A1

83. Nguyễn Hoàng Huân
Lớp 11A1

84. Lê Vĩnh Khang
Lớp 11A1

85. Huỳnh Kim Ngân
Lớp 11A1

86. Lâm Thanh Ngân
Lớp 11A1

87. Trần Thanh Ngân
Lớp 11A1

88. Chiêm Vĩnh Phú
Lớp 11A1

89. Nguyễn Tấn Thành Phúc
Lớp 11A1

90. Huỳnh Đông Quí
Lớp 11A1

91. Trần Diễm Quỳnh
Lớp 11A1

92. Trần San San
Lớp 11A1

93. Huỳnh Thị Kiều Têl
Lớp 11A1

94. Nguyễn Thị Thanh Thảo
Lớp 11A1

95. Nguyễn Hoàng Anh Thư
Lớp 11A1

96. Tạ Bùi Anh Thư
Lớp 11A1

97. Lưu Thị Bảo Trân
Lớp 11A1

98. Phan Mỹ Trân
Lớp 11A1

99. Nguyễn Thị Tú Trinh
Lớp 11A1

100. Nguyễn Xuân Trọng
Lớp 11A1

101. Nguyễn Hồ Thanh Tuyến
Lớp 11A1

102. Lâm Nguyễn Tường Vy
Lớp 11A1

103. Nguyễn Ngọc Hân
Lớp 11A2

104. Võ Phương Các Lợi
Lớp 11A2

105. Trần Hồng Như Quỳnh
Lớp 11A2

106. Huỳnh Thúy Vy
Lớp 11A2

107. Huỳnh Trần Hảo
Lớp 11A3

108. Diệp Tuấn Huy
Lớp 11A3

109. Trần Ngọc Huy
Lớp 11A3

110. Trần Trọng Khang
Lớp 11A3

111. Nguyễn Hoàng Kim
Lớp 11A3

112. Đặng Bảo Ngọc
Lớp 11A3

113. Lý Thị Mỷ Nhân
Lớp 11A3

114. Nguyễn Hồng Nhiên
Lớp 11A3

115. Trịnh Ngọc Như
Lớp 11A3

116. Nguyễn Kiều Quyên
Lớp 11A3

117. Nguyễn Thị Bích Vân
Lớp 11A3

118. Ngô Khải Hân
Lớp 11A4

119. Võ Minh Tâm
Lớp 11A4

120. Trần Thị Thương
Lớp 11A4

121. Trịnh Ngọc Hân
Lớp 11A5

122. Trần Kim Phụng
Lớp 11A5

123. Văn Tường Vy
Lớp 11A5

124. Trần Huỳnh Anh
Lớp 10A1

125. Thái Hồng Cẩm
Lớp 10A1

126. Trần Thị Kim Chu
Lớp 10A1

127. Cao Nguyễn Thúy Hằng
Lớp 10A1

128. Lý Hoàng Khang
Lớp 10A1

129. Phan Quốc Khang
Lớp 10A1

130. Nguyễn Trí Khôi
Lớp 10A1

131. Lâm Hiếu Kiên
Lớp 10A1

132. Trương Huỳnh Lộc
Lớp 10A1

133. Ngô Tú Minh
Lớp 10A1

134. Lương Tú Nga
Lớp 10A1

135. Khâm Kim Ngọc
Lớp 10A1

136. Lê Trọng Nguyên
Lớp 10A1

137. Nguyễn Thị Yến Nhi
Lớp 10A1

138. Ong Thảo Nhi
Lớp 10A1

139. Mã Ánh Nhung
Lớp 10A1

140. Trần Nguyên Phong
Lớp 10A1

141. Hồ Thanh Quý
Lớp 10A1

142. Huỳnh Đoàn Đức Siêu
Lớp 10A1

143. Lê Thị Như Thắm
Lớp 10A1

144. Nguyễn Thanh Tiến
Lớp 10A1

145. Nguyễn Nghĩa Tín
Lớp 10A1

146. Lê Tuyết Trân
Lớp 10A1

147. Thái Mỹ Trân
Lớp 10A1

148. Nguyễn Việt Thùy Đoan
Lớp 10A2

149. Dương Út Hậu
Lớp 10A2

150. Phạm Vũ Luân
Lớp 10A2

151. Mai Minh Thư
Lớp 10A2

152. Huỳnh Bảo Trâm
Lớp 10A2

153. Huỳnh Thị Như Ý (27/5)
Lớp 10A3

154. Trần Mỹ Anh
Lớp 10A3

155. Trần Minh Đăng
Lớp 10A3

156. Tiết Thu Mai
Lớp 10A3

157. Tô Thị Kim Mai
Lớp 10A3

158. Nguyễn Bắc Nam
Lớp 10A3

159. Trương Thanh Ngân
Lớp 10A3

160. Huỳnh Thị Yến Nhi
Lớp 10A3

161. Nguyễn Thị Ngọc Nhi
Lớp 10A3

162. Chung Bảo Phú
Lớp 10A3

163. Võ Xuân Quỳnh
Lớp 10A3

164. Lê Đức Hiệp Tài
Lớp 10A3

165. Thạch Thị Minh Thư
Lớp 10A3

166. Nguyễn Lê Xuân Trang
Lớp 10A3

167. Trương Thị Phương Vy
Lớp 10A3

168. Nguyễn Thị Kiều Chi
Lớp 10A4

169. Võ Chí Thanh
Lớp 10A4

170. Lê Huệ Mẫn
Lớp 10A5

171. Hồng Tăng Ngọc Mai
Lớp 10A6

172. Đào Hồng Tú
Lớp 10A6

173. Mai Thị Thu Ngân
Lớp 10A7


Xem chi tiết 

ĐĂNG NHẬP

Tài khoản

Mật khẩu  



TIN TỪ BỘ GD-ĐT

Thi - Tuyển sinh
Hệ thống văn bản
Diễn dàn giáo dục
Điểm tin giáo dục
Học sinh-Sinh viên
Giáo dục đại học
Giáo dục phổ thông
Số liệu thống kê giáo dục
Học bổng - Du học
Dạy và học tích cực
TRANG CHỦ > SƯU TẦM GIỚI THIỆU
Cập nhật ngày 19/2/2016 (GMT+7)
Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ 2016: Thí sinh ít có cơ hội chọn chỗ để vào đại học!
(Dân trí) Thứ trưởng Bùi Văn Ga: “Thí sinh được phép chọn 2 trường trong đợt 1 và 3 trường trong mỗi đợt bổ sung, mỗi trường chọn 2 ngành theo thứ tự ưu tiên. Điều này giúp các em được chọn ngành học theo sở thích hơn là chọn một chỗ để vào học đại học theo ngành mà mình không thật thích thú”.

Đó là chia sẻ của Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga về những quy định trong dự thảo sửa đổi, bổ sung Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ 2016 mà bộ vừa công bố để lấy ý kiến.


Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga

Thưa Thứ trưởng, những điểm mới bổ sung, sửa đổi trong dự thảo Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ 2016 mà bộ vừa công bố lấy ý kiến có những điểm mới quan trọng nào với thí sinh và các trường?

Qui chế tuyển sinh năm 2016 được hoàn thiện trên nguyên tắc những gì đã làm tốt năm 2015 thì năm nay làm tốt hơn, những gì còn bất cập năm 2015 thì khắc phục triệt để, còn những gì không cần thiết phải thay đổi thì giữ nguyên để đảm bảo ổn định tâm lý thí sinh.

Trên nguyên tắc đó thì năm nay thí sinh tiếp tục đăng ký xét tuyển sau khi đã có kết quả thi. Vì thế thí sinh có thể tham khảo kết quả xét tuyển vào các trường khác nhau năm 2015 để cân nhắc, lựa chọn việc đăng ký xét tuyển phù hợp với kết quả thi của mình.

Thí sinh được phép chọn 2 trường trong đợt 1 và 3 trường trong mỗi đợt bổ sung, mỗi trường chọn 2 ngành theo thứ tự ưu tiên. Điều này giúp các em được chọn ngành học theo sở thích hơn là chọn một chỗ để vào học đại học theo ngành mà mình không thật thích thú.

Đối với những trường tuyển sinh theo nhóm trường, sự lựa chọn ngành học phù hợp với sở trường của thí sinh còn đa dạng hơn.

Dự thảo qui chế cho phép thí sinh có thể sử dụng số nguyện vọng qui định của mình để chọn ngành học yêu thích ở các trường khác nhau trong nhóm. Việc lập nhóm xét tuyển vừa có lợi cho thí sinh, vừa có lợi cho cả nhà trường (loại bỏ được thí sinh ảo).

Tuy nhiên Luật GDĐH qui định các trường tự chủ trong tuyển sinh nên việc có thành lập nhóm trường tuyển sinh chung hay không tùy thuộc vào sự tự nguyện của các trường.

Bộ cung cấp cơ sở dữ liệu chung để các trường truy cập khi xét tuyển. Khi có kết quả xét tuyển các trường cập nhật lên hệ thống để loại trừ danh sách thí sinh đã trúng tuyển để xét tuyển các đợt tiếp theo. Các trường chủ động qui định phương thức xét tuyển giữa các nguyện vọng thí sinh đã đăng ký.

Qui chế năm nay không qui định điểm xét tuyển đợt sau phải cao hơn hay bằng điểm xét tuyển đợt trước để các trường chủ động cân chỉnh điểm nhận đăng ký xét tuyển, tránh tình trạng các trường tốp trên nhận hồ sơ từ ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, gây phức tạp cho công tác tuyển sinh chung.

Hệ thống sẽ từ chối nếu thí sinh đăng ký xét tuyển vượt quy định

Thưa Thứ trưởng, quy định cho phép thí sinh nộp qua đường bưu điện, nộp trực tuyến, nhiều ý kiến cho rằng sẽ khó kiểm soát, gây lộn xộn?

Tâm lý chung của phụ huynh và thí sinh là muốn đến trường nộp hồ sơ cho yên tâm! Điều này gây tốn kém và không cần thiết.

Quy chế năm nay quy định thí sinh nộp Phiếu ĐKXT cho trường qua đường bưu điện theo hình thức thư chuyển phát nhanh hoặc đăng kí trực tuyến. Thí sinh nộp lệ phí ĐKXT cũng qua đường bưu điện hay các phương thức khác do trường quy định, trừ phương thức nộp trực tiếp tại trường.

Thí sinh cũng cần hiểu rõ số nguyện vọng được đăng ký trong mỗi đợt xét tuyển. Nguyên tắc chung dù đăng ký trực tuyến (do thí sinh nhập thông tin ĐKXT vào hệ thống) hay đăng ký qua đường bưu điện (nhà trường nhập thông tin từ phiếu ĐKXT của thí sinh vào hệ thống) thì thí sinh cũng chỉ được số nguyện vọng tối đa quy định đã nhập vào hệ thống trước.

Những nguyện vọng nhập sau đó (quá số nguyện vọng tối đa) thì hệ thống sẽ từ chối. Vì vậy thí sinh cần cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định đăng ký xét tuyển.


Theo Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ 2016, hạn chế thí sinh lựa chọn ngành học, trường học theo cảm tính

Theo Quy chế tuyển sinh ĐH,CĐ 2016, hạn chế thí sinh lựa chọn ngành học, trường học theo cảm tính

Thu hẹp dần diện được hưởng ưu tiên cao

Thưa thứ trưởng, khá nhiều ý kiến cho rằng, mức điểm chênh lệch ưu tiên là 1 điểm với thí sinh thuộc các đối tượng liền kề và 0,5 điểm giữa các khu vực liền kề sẽ gây thiệt thòi cho nhiều học sinh? Tại sao bộ không khắc phục?

Lý do khiến một số ý kiến đề nghị giảm mức chênh lệch điểm ưu tiên đối tượng và khu vực xuất phát từ cấu trúc đề thi đáp ứng 2 mục đích. Trước đây đề thi chỉ sử dụng cho mục đích tuyển sinh ĐH, CĐ nên được thiết kế để phân loại thí sinh. Còn nay đề thi có 60% kiến thức cơ bản để xét tốt nghiệp THPT, 40% kiến thức nâng cao để tuyển sinh ĐH, CĐ. Vì vậy so với thi tuyển sinh ĐH, CĐ trước đây thì nay để đạt được điểm cao sẽ khó hơn nhưng để đạt điểm trung bình sẽ dễ hơn.

Dựa trên lập luận đó thì những thí sinh có mức ưu tiên cao sẽ có nhiều quyền lợi hơn, không công bằng với những thí sinh không được ưu tiên. Bộ đã yêu cầu Cục Khảo thí thống kê kết quả thí sinh đạt trên ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào năm 2015 diện ưu tiên và diện không ưu tiên.

Kết quả cho thấy tỉ lệ thí sinh vùng khó khăn, thí sinh là dân tộc thiểu số đạt trên ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào so với thí sinh các vùng khác cũng tương đương với những năm tuyển sinh 3 chung. Nếu giảm mức chênh lệch điểm ưu tiên theo đề nghị của một số ý kiến (giảm 50% mức chênh lệch điểm ưu tiên) thì tỉ lệ thí sinh vùng khó khăn, thí sinh là người dân tộc thiểu số trên ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào sẽ thấp đi đáng kể.

Bộ cũng đã đưa vấn đề này ra thảo luận ở các cuộc họp với các trường ĐH, CĐ và tham khảo ý kiến của Ủy Ban Dân tộc. Phần lớn ý kiến cho rằng nên duy trì mức điểm ưu tiên như năm 2015 nhưng thu hẹp bớt diện ưu tiên cao, cụ thể là các đối tượng thuộc nhóm ưu tiên 1, đối tượng được hưởng ưu tiên theo hộ khẩu khu vực 1.

Ví dụ dự thảo qui chế tuyển sinh năm nay qui định để được hưởng nhóm ưu tiên 1 thì thí sinh công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số phải có hộ khẩu thường trú 18 tháng trở lên trong thời gian học THPT tại các xã khu vực 1.

So với quy chế năm 2015 thì diện này thu hẹp đi khá nhiều. Hoặc như thí sinh được hưởng ưu tiên theo hộ khẩu thường trú khu vực 1 phải có hộ khẩu thường trú từ 18 tháng trở lên trong thời gian học THPT ở các xã này và học THPT tại trường huyện, thị xã có xã khu vực 1.

So với qui chế 2015 diện được hưởng ưu tiên khu vực 1 vì thế cũng giảm đi đáng kể.

Nói tóm lại, qui chế năm nay thu hẹp dần diện được hưởng ưu tiên cao nhưng những đối tượng thí sinh vùng còn khó khăn, con em dân tộc vẫn cần được duy trì mức chênh lệch điểm ưu tiên như những năm trước để đảm bảo công bằng trong tuyển sinh.

Đảm bảo chất lượng nguồn tuyển và sự công bằng ở bậc Cao đẳng

Trong dự thảo quy chế mới có quy định, “trường CĐ ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào là: Tốt nghiệp THPT”, liệu có phải hạ thấp đầu vào cao đẳng thưa thứ trưởng?

Luật Giáo dục Nghề nghiệp có hiệu lực tháng 7 năm 2015 đã thống nhất trình độ cao đẳng và cao đẳng nghề. Vì vậy công tác tuyển sinh, chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo... của hai loại hình trường cao đẳng phải dần dần tiến đến sự thống nhất chung, bám sát mục tiêu đào tạo của hệ cao đẳng.

Theo Khung trình độ quốc gia mà Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thống nhất soạn thảo dựa trên Khung trình độ tham chiếu ASEAN thì đầu ra của hệ cao đẳng hướng đến kỹ năng thực hành nghề nghiệp.

Mặt khác, nếu phân luồng sau trung học cơ sở được thực hiện tốt thì trên nguyên tắc, học sinh tốt nghiệp THPT là đủ điều kiện học tiếp CĐ, ĐH. Việc tuyển sinh khi đó cũng chỉ diễn ra ở một số trường ĐH có tính cạnh tranh cao, các trường ĐH theo định hướng nghiên cứu.

Mặc dù qui định ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào cao đẳng là tốt nghiệp THPT nhưng các trường phải thực hiện tuyển sinh theo nguyên tắc xét tuyển thí sinh từ kết quả cao xuống kết quả thấp. Vì vậy các trường CĐ, nhất là những trường cao đẳng có sức thu hút thí sinh lớn, phải qui định tiêu chí xét tuyển thí sinh vào trường mình để đảm bảo chất lượng nguồn tuyển và sự công bằng.

Xin trân trọng cám ơn Thứ trưởng!

Hồng Hạnh (thực hiện)

(Email: vuhonghanh@dantri.com.vn)

Quay lại

In bản tin này

CÁC TIN LIÊN QUAN

Bộ GD&ĐT chính thức có phản hồi về đề án thi THPT của TPHCM (07/10/2016)

Phân tích phương án thi tốt nghiệp THPT 2017 (07/10/2016)

Có khoảng 320.000 thí sinh tham gia xét tuyển đại học 2016 (28/7/2016)

Công bố lịch thi THPT quốc gia 2016 (21/3/2016)

Tại sao có ngày nhuận 29/2 sau 4 năm? (29/2/2016)

Thí sinh hưởng lợi gì trong kỳ thi THPT quốc gia 2016? (18/2/2016)

Tuyển sinh đại học năm 2016: Trường công lập cũng xét tuyển qua học bạ (17/2/2016)

Những hình ảnh khiến bạn muốn ở bên cha mẹ dịp Tết (07/2/2016)

Đề thi THPT Quốc gia 2016 được xây dựng như thế nào? (29/9/2015)

Thư Chủ tịch nước gửi ngành Giáo dục nhân dịp khai giảng năm học mới 2015 - 2016 (03/9/2015)
Xem tất cả tin thuộc nhóm tin này

NỘI DUNG CẬP NHẬT

Thời khoá biểu học kì I, năm học 2019-2020 (áp dụng từ 21/10/2019) (17/10/2019)

Đề cương tuyên truyền 63 năm thành lập hội lHTN Việt Nam (14/10/2019)

Trường THPT Mỹ Xuyên với phong trào "Giáo viên mẫu mực - học trò chăm ngoan" Tuần 02 (08/10/2019)

Trường THPT Mỹ Xuyên với phong trào "Giáo viên mẫu mực - học trò chăm ngoan" (05/10/2019)

Thời khoá biểu học kì I, năm học 2019-2020 (áp dụng từ 23/9/2019) (20/9/2019)

TRƯỜNG THPT MỸ XUYÊN VỮNG TIN BƯỚC VÀO NĂM HỌC MỚI (05/9/2019)

Thời khoá biểu học kì I, năm học 2019-2020 (áp dụng từ 26/8/2019) (21/8/2019)

Thời khoá biểu học kì II, năm học 2018-2019 (áp dụng từ 13/5/2019) (10/5/2019)

Kế hoạch tuyển sinh vào trường THPT Mỹ Xuyên năm học 2019 - 2020 (11/4/2019)

Thời khoá biểu học kì II, năm học 2018-2019 (áp dụng từ 15/4/2019) (11/4/2019)

Xem chi tiết 

TÌM KIẾM


Từ internet
Từ thptmyxuyen.edu.vn


GIÁO VIÊN VỀ HƯU


CÁI CÁCH HÀNH CHÍNH


CUỘC THI TRÊN INTERNET



LIÊN KẾT WEBSITE

Bộ Giáo dục-Đào tạo
Sở GD-ĐT Sóc Trăng
Đại học Cần Thơ
CĐSP Sóc Trăng
CĐCĐ Sóc Trăng
THPT Hoàng Diệu
THPT Văn Ngọc Chính
THPT Chuyên NTMK
THPT Huỳnh Hữa Nghĩa
THPT Kế Sách
THPT Lê Lợi
THPT Lương Định Của
THPT Lê Văn Tám





Trang chủ | Thời khóa biểu | Kết quả học tập | Tiện ích - Giải trí | Góp ý | Liên hệ


TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MỸ XUYÊN
195 - Tỉnh lộ 934 - Ấp Châu Thành - TT Mỹ Xuyên - Huyện Mỹ Xuyên - Tỉnh Sóc Trăng .:|:. ĐT: 079.3851272

Email : thptmyxuyen@soctrang.edu.vn

  Chúc bạn một buổi tối ngon giấc!